Unit 1: Changes and Consequences · Đáp án bám key gốc (Bài 2–8). Bài 1 (nhìn ảnh đoán graph) và Bài 9–10 không có trong key gốc.
Bài 2 — Match each graph (a–h)
Match each graph (a–h) with the most appropriate description below (1–10).
Bài 3 — Underline the verbs
Underline the verbs in 2 used to describe trends. (Ví dụ — Câu 1: Sales of audio cassettes fell steadily.)
Bài 4 — Slow / Fast adverbs
The verbs in 2 are modified by adverbs such as steadily. Find the adverbs and decide whether they mean slow or fast changes.
steadily, gradually, slightly
wildly, sharply, dramatically, suddenly
Bài 5 — Rewrite the sentences
Sentences containing verb phrases such as fell steadily can often be rewritten using the correct form of there is/are and a related noun. Rewrite sentences a–j.
- The consumption of chocolate fell steadily. (verb + adverb)
- There was a steady fall in the consumption of chocolate. (there was a + adjective + noun)
- There has been a dramatic rise in the production of films. (there has been a + adjective + noun)
- The production of films has risen dramatically. (verb + adverb)
Bài 6 — Two nouns
Phrases such as the consumption of chocolate can often be rewritten as just two nouns. Find and rewrite other examples in exercise 5.
- The consumption of chocolate can become Chocolate consumption.
- The production of films can become Film production (not Films production).
Bài 7 — Understanding data
Read the graph and the Task 1 question. What was the income in dollars for:
Bài 8 — Questions about the graph
Answer these questions about the graph.
Đề bài
Phân tích 2 biểu đồ bên dưới theo các bước sau:
- B1. Tìm các đặc điểm toàn cảnh của biểu đồ
- B2. Tìm các điểm & giai đoạn có biến động hoặc có thể gộp chung
- B3. Sắp xếp logic các điểm dữ liệu theo nguyên tắc:
- a. Các xu hướng giống nhau xếp cạnh nhau.
- b. Các data chung xếp vào cùng 1 đoạn
- c. Các điểm độc lạ/đặc thù xếp ở cuối.
- B4. Viết ra các diễn giải bằng tiếng Việt, thêm vào số liệu và các từ nối cần thiết.
Sản phẩm cuối cùng sẽ cần có đầy đủ các loại ngôn ngữ dưới đây:
- B5. (Tùy chọn) Dịch bài ra tiếng Anh.
Số lượng công ty sản xuất chip ở Trung Quốc tăng mạnh, từ con số 2 ít ỏi vào 2020 giờ đây đã có trên 200 công ty vào 2025, vượt qua Đài Loan và tiệm cận Mỹ.
The number of chip manufacturing companies in China has soared, growing from a mere 2 in 2020 to over 200 in 2025, surpassing Taiwan and approaching the US.
Line graph 1 — CO₂ emissions
- UK và Sweden giảm
- Italy và Portugal tăng
- UK thải ra nhiều CO2 nhất trong cả quá trình,
- Portugal thải ra ít CO2 nhất trong cả quá trình.
- Nhìn chung biên độ đều đặn dù tăng hay giảm.
- Riêng Sweden tăng mạnh vào 1977 sau đó giảm cũng mạnh.
- Portugal tăng mạnh tuy nhiên vẫn chỉ xếp cuối bảng
- ..và bằng với mức độ của Sweden
- Câu 1: UK và sweden giảm..
- Câu 2 …trong đó UK giảm đều từ sấp xỉ 11 xuống khoảng 9 vào cuối chu kỳ.
- Câu 3: …đáng chú ý là UK vẫn nắm top.
- Câu 4: Sweden giật/tăng mạnh từ 9 lên hơn 10, sau đó giảm cũng mạnh xuống 7, sau đó giảm đều về khoảng 5.
- Câu 5: Italy và Portugal tăng
- Câu 6: Italy tăng từ hơn 4 lên hơn 6, vào năm 1977, sau đó tăng đều lên gần 8 vào 1997 và giữ vị trí đó cho đến cuối chu kỳ.
- Câu 7: Portugal tăng mạnh khoảng hơn 5 lần.
- …đáng chú ý là dù vậy thì vẫn nằm ở đáy xã hội.
Chúng ta có thể thấy rằng có 1 nửa số quốc gia có xu hướng phát thải giảm đi trong khi 1 nửa còn lại có xu hướng tăng lên. Nhìn chung biên độ dao động lượng phát thải của các quốc gia khá đều đặn, trừ Sweden.
UK và Sweden là 2 quốc gia phát thải ít dần theo thời gian.
Vào 1967, UK thải ra gần 11 tấn CO2. Con số này giảm đều đặn về phía cuối chu kỳ, đạt sấp xỉ 9 tấn vào năm 2007.
Tuy có lượng phát thải có giảm nhưng UK vẫn duy trì là quốc gia phát thải nhiều nhất trong suốt 40 năm.
Sweden chứng kiến một sự thay đổi mạnh vào 10 năm đầu chu kỳ, từ hơn 8 tấn vào 1967 lên đến hơn 10 tấn vào 1977, trước khi giảm mạnh xuống sấp xỉ 7 tấn vào 1987.
Con số này tiếp tục xu hướng giảm cho đến 2007, đạt ~ hơn 5 tấn.
Italy và Portugal có xu hướng tăng lượng phát thải.
Vào 1967, Italy xả thải hơn 4 tấn, tăng mạnh lên trên 6 tấn vào 1977.
Mức xả thải đạt đỉnh vào năm 1997, tại dưới 8 tấn, sau đó duy trì/đi ngang/ ổn định cho đến cuối chu kỳ.
Portugal có mức xả thải thấp nhất vào đầu chu kỳ với hơn 1 tấn, tăng mạnh cho đến năm 1997, đạt 5 tấn, sau đó tăng chậm hơn và đạt trên 5 tấn vào 2007, tương đương với mức của Sweden.
Line graph 2 — Consumption of Spreads
- Butter và Magarine giảm
- Low fat và reduced spread tăng
- Butter cao nhất vào 1981, Margarine thấp nhất 2007
- Low fat cao nhất 2007
- Số liệu về Lowfat không được recorded cho đến giữa 1996.
- Sau đó tăng rất mạnh trước khi giảm nhẹ...
- ..nhưng cuối cùng vẫn đứng đầu
- Butter đạt đỉnh vào 1986.
- 3. Sắp xếp: Theo màu sắc đánh dấu bên trên
- Butter và Magarine giảm
- Trong đó Butter nhích lên đỉnh vào 1986, tụt dốc không phanh xuống đáy.
- Margarine có sự thay đổi ít biến động hơn. (dao động trong range 80 và 100 trong suốt 20 năm đầu).
- Bắt đầu từ 90 xuống 80, lên 100 và giữ ở đó trong 5 năm, trước khi giảm dần về lại trên 80 và rụng mạnh lần cuối cùng về 40
- Câu 4: Số liệu về lowfat chỉ xuất hiện/được ghi nhận vào năm 1996.
- Con số này nhanh chóng tăng mạnh vào 2001, vượt qua butter và cùng mức tiêu thụ với Margarine.
- Cuối cùng nó giảm nhẹ vào cuối chu kỳ, tuy nhiên vẫn giữ vị trí đầu bảng.
Chúng ta có thể thấy rằng Butter và Margarine có xu hướng được tiêu thụ ít dần qua các năm và Low fat và reduced fat trở thành spreads phổ biến nhất.
*spreads = các loại có thể phết được (như mứt, bơ, vvv)
Butter và Magarine được tiêu thụ ít dần qua từng năm.
Xuất phát ở mức trên 140 grams, consumption của bơ tăng đạt đỉnh tại sấp xỉ 160gr, sau đó giảm mạnh xuống 100grs vào 1991.
Con số này tiếp tục tụt dốc về cuối chu kỳ, đạt mức 50 grams vào 2007- 1 mức giảm gần 3 lần từ đỉnh.
Margarine có sự thay đổi ít biến động hơn. Nó dao động trong range 80 và 100 trong suốt 20 năm đầu. Bắt đầu từ 90 xuống 80, lên 100 và giữ ở đó trong 5 năm, trước khi giảm dần về lại trên 80 và rụng mạnh lần cuối cùng về 40.
Số liệu về lowfat chỉ xuất hiện/được ghi nhận vào năm 1996, với 1 mức tiêu thụ khiêm tốn là 10 grams.
Con số này nhanh chóng tăng mạnh vào 2001, vượt qua butter và cùng mức tiêu thụ với Margarine, đạt mức trên 80 grams.
Cuối cùng nó giảm nhẹ vào cuối chu kỳ chỉ còn khoảng 70grams, tuy nhiên vẫn giữ vị trí đầu bảng.